http://congbao.chinhphu.vn/
http://chinhphu.vn/
http://moj.gov.vn/vbpq/lists/vn%20bn%20php%20lut/view_detail.aspx?itemid=18147
 Liên kết website
Số lượt truy cập
Thống kê: 219.376
Online: 30

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
1.1 Vị trí địa lý Huyện Đông Hoà là huyện thuộc vùng duyên hải miền Nam Trung Bộ, vừa có đồng bằng, vừa có đồi núi, vừa có biển thuộc tỉnh Phú Yên, có toạ độ địa lý từ 12045'59" đến 130 03' 10 vĩ độ bắc, từ 1090 16' 15" đến 1090 28' 05" kinh độ đông, có tổng diện tích tự nhiên 26.828,46 ha.
Ranh giới của huyện Đông Hoà tiếp giáp với các huyện sau:
+ Phía Bắc giáp thành phố Tuy Hoà và huyện Phú Hoà.
+ Phía Nam giáp huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hoà.
+ Phía Đông giáp biển Đông.
+ Phía Tây giáp huyện Tây Hoà.
Huyện Đông Hoà có quốc lộ 1A là tuyến đường xuyên Việt, Quốc lộ 29 từ cảng Vũng Rô đi Tây nguyên, tuyến đường sắt Bắc Nam và cảng Vũng Rô ra biển Đông, đặc biệt phía Đông giáp biển Đông, đã tạo cho huyện một vị trí thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế xã hội với các tỉnh lân cận và phát triển kinh tế biển.
1.2. Địa hình, địa mạo
Huyện Đông Hoà mang đặc thù của đồng bằng duyên hải miền Nam Trung Bộ, dốc và thấp dần từ Tây sang Đông, có 2 dạng địa hình cơ bản sau:
* Vùng đồng bằng: Địa hình bằng phẳng nằm ở phía Bắc của huyện, thuộc dạng địa hình đồng bằng ven sông, kéo dài từ Tây sang Đông, độ chênh cao nhỏ. Phía Đông là vùng đất cát ven biển, phía Tây Bắc là vùng đất phù sa do hai con sông Đà Rằng và sông Bàn Thạch bồi đắp. Sông Bàn Thạch chảy từ Tây sang Đông qua địa bàn huyện.
Hướng dốc chính từ Tây sang Đông và dốc dần ra hướng sông Bàn Thạch. Độ dốc trung bình là 0,05%.
+ Cao độ nền tự nhiên trung bình +2,5 m đến +3 m.
+ Khu vực cao nhất dọc quốc lộ 1A, có cao độ +5,5 m đến +5,7m.
+ Khu vực thấp nhất dọc 2 bên sông Bàn Thạch, cao độ nền từ +0,5 m đến +1,5 m.
* Vùng đồi núi: Nằm ở phía Nam của huyện, kéo dài từ Tây sang Đông chiếm khá lớn diện tích tự nhiên của huyện. Địa hình bị chia cắt khá phức tạp. Độ cao trung bình 400 m đến 500 m, độ dốc vùng núi biến động lớn.

 
1.3. Đặc điểm khí hậu
Huyện Đông Hoà nằm trong vùng khí hậu duyên hải Miền Trung, khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa khô và mùa mưa;
+ Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, tuy lượng mưa lớn nhưng phân bố không đều qua các tháng trong năm, mưa tập trung lớn vào tháng 10, 11, lượng mưa mùa này chiếm từ 70 - 80% lượng mưa cả năm, số ngày mưa chiếm 30%.
+ Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, lượng mưa các tháng mùa khô chiếm 20 - 30% tổng lượng mưa cả năm, số ngày mưa chiếm 50% nhưng cường độ mưa nhỏ, thường từ 1 - 10 mm.
* Mưa:
-Lượng mưa trung bình năm: 1800 - 2000mm.
-Lượng mưa cao nhất: 2341mm.
-Lượng mưa thấp nhất 856mm.
*Độ ẩm:
-Độ ẩm trung bình năm: 80 - 90%
-Tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 10 hoặc tháng 11: 90%
-Tháng có độ ẩm thấp nhất tháng 4 hoặc tháng 5: 35%.
*Nhiệt độ
-Nhiệt độ trung bình năm: 26,50C
-Nhiệt độ cao nhất trung bình năm: 29,30C
-Nhiệt độ thấp nhất trung bình năm 23,20C.
Nhiệt độ trung bình năm biến đổi không lớn, biến động từ 4 - 60C.
*Các hướng gió chính trong năm: Hàng năm có 2 hướng gió chính chủ đạo, gió mùa Đông Bắc vào mùa mưa và gió Tây Nam (gió Lào) khô nóng vào mùa khô. Vận tốc gió trung bình hàng năm dao động trong khoảng 2 - 2,5m/s, vận tốc gió mạnh nhất vào tháng 5 đến tháng 6: 25m/s; vận tốc gió nhỏ nhất vào tháng 12 đến tháng 1: 10m/s.
*Chế độ hơi nước:
-Lượng bốc hơi trung bình năm là: 650 mm.
-Tháng có lượng bốc hơi cao nhất: 90,5 mm (tháng 6, 7).
-Tháng có lượng bốc hơi thấp nhất: 24,5 mm (tháng 10). Các tháng mùa mưa có lượng bốc hơi nước thấp hơn lượng nước mưa, ngược lại các tháng mùa khô lượng bốc hơi nước gấp 3,6 lần lượng nước mưa.
Nhìn chung thời tiết nóng ấm khá ổn định, thường kéo dài 9 tháng trong năm, từ tháng 3 đến tháng 11. Rõ ràng chế độ nhiệt ở huyện Đông Hoà thể hiện một mùa đông ngắn, không lạnh và mùa hè kéo dài, nắng nóng khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
1.4. Thuỷ văn
Huyện Đông Hoà có hai con sông lớn chảy qua đó là sông Đà Rằng và sông Bàn Thạch, sông Bàn Thạch là một trong 3 con sông lớn nhất tỉnh Phú Yên. Sông Bàn Thạch xuất phát từ núi cao ở phía Nam và Tây Nam huyện Tây Hoà trên độ cao 1000 - 1500m. Sông Bàn Thạch có tổng chiều dài 58km, diện tích lưu vực 600 km2, dòng chảy theo hướng Tây Đông, lưu lượng trung bình 12 - 15m3/s, ở thượng nguồn có độ dốc 7,5%, chảy qua khu vực có độ dốc 0,2%. Sông Đà Rằng là con sông dài nhất vùng duyên hải miền Trung, bắt nguồn từ tỉnh Kon Tum trên độ cao 2000 m, chảy qua huyện theo hướng Tây Đông, có lưu vực nằm trong khu vực có lượng mưa lớn nhất tỉnh, lưu lượng nước trung bình 280 m3/s nên thường gây lũ lụt vùng phía Nam huyện Đông Hoà. Ngoài ra còn có hồ Đồng Khôn, đập Tân Giang, đập Đồng Lau, Biển Hồ, ba đập bổi khe suối và hệ thống nước tưới của thuỷ nông Đồng Cam, biển Hồ, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản.
2. Các nguồn tài nguyên
2.1. Tài nguyên đất
Theo kết quả điều tra nông hoá thổ nhưỡng cho thấy đất đai của huyện Đông Hoà bao gồm các loại đất chủ yếu sau: đất phù sa, đất xám, đất Feralit phát triển trên đá Granít phiến sa thạch, đất mặn, đất cát.
2.1.1. Nhóm đất phù sa (P)
  Đất phù sa của huyện được phân bố tập trung ở phía Tây Bắc do 2 con sông Bàn Thạch và Đà Rằng bồi đắp nên. Nhóm đất này có 2 loại là: đất phù sa được bồi hàng năm và đất phù sa không được bồi hàng năm. Đất có hàm lượng dinh dưỡng khá cao, thích hợp với nhiều loại cây trồng. Các loại cây trồng thích hợp là cây lương thực, cây hoa màu, cây ăn quả,...
  - Đất phù sa được bồi hàng năm: được phân bố ở ven sông, tập trung ở khu vực có địa hình cao, thành phần cơ giới nhẹ, ít chua hoặc trung tính, hàm lượng dinh dưỡng từ khá đến giàu, thích hợp cho trồng cây công nghiệp ngắn ngày và cây rau màu.
  - Đất phù sa không được bồi hàng năm: thường tập trung phía xa sông, nơi có địa hình cao, thành phần cơ giới nhẹ, ít chua, nghèo lân và kali, thích hợp cho trồng cây công nghiệp ngắn ngày, lúa và cây rau màu.
2.1.2. Nhóm đất xám (X)
  Đất xám được hình thành trên phù sa cổ và đá cát, phân bố chủ yếu ở Hòa Xuân Đông, Hòa Xuân Tây, Hòa Tân Đông...Đất có đặc điểm thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, phản ứng đất chua, độ no bazơ thấp, nghèo mùn, các chất dinh dưỡng tổng số và dễ tiêu đều nghèo. Đất thích hợp với cây trồng cạn, cây công nghiệp, lúa và cây ăn quả. Nếu chủ động được nước tưới, phân bón và khử chua sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
2.1.3. Nhóm đất Feralit phát triển trên đá granit phiến sa thạch (F)
Đất feralit phát triển trên đá granit phiến sa thạch được phân bố ở Hòa Tâm, Hòa Xuân Tây, Hòa Xuân Nam. Đất thường có phản ứng chua, độ no bazơ thấp, khả năng hấp thu dinh dưỡng trung bình, có quá trình tích lũy sắt, nhôm tương đối và tuyệt đối, dễ bị xói mòn, rửa trôi do nằm ở địa hình cao, dốc nhiều và bị chia cắt mạnh, nếu không được sử dụng hợp lý dễ dẫn đến tình trạng thoái hóa đất. Hướng phát triển thích hợp là trồng rừng.
2.1.4. Nhóm đất mặn (M)
Đất mặn của huyện Đông Hòa được phân bố ở ven biển, cửa sông, gồm 2 nhóm: đất mặn nhiều, đất mặn trung bình và ít. Đặc tính chủ yếu của đất mặn là có chứa lượng muối khá cao, hàm lượng dinh dưỡng trung bình đến khá, thành phần cơ giới trung bình, đất có phản ứng trung tính ít chua đến kiềm nhẹ.
- Đất mặn nhiều: được hình thành ở nơi địa hình thấp, ven biển, cửa sông, thường chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều và cũng có nơi do nước mạch mặn chứa muối NaCl trong nước biển, đất có thành phần cơ giới trung bình, càng gần cửa sông càng nặng và có sự thay đổi độ mặn theo mùa: mùa khô nước cạn nên nồng độ muối trong đất cao làm cho đất trở nên mặn hơn trong mùa mưa. Hướng sử dụng đất mặn chủ yếu để nuôi trồng thủy sản, nếu được cải tạo rửa mặn có thể trồng được lúa.  
- Đất mặn trung bình và ít: được hình thành ở nơi có địa hình cao từ sản phẩm của phù sa sông và biển, thường tiếp giáp với đất phù sa, đất có phản ứng trung tính, ít chua, thành phần cơ giới thịt trung bình đến thịt nặng, màu nâu, xám đen, nâu tím, đạm trung bình, lân nghèo đến trung bình. Hướng sử dụng là trồng lúa, màu và nuôi trồng thủy sản.
2.1.5. Nhóm đất cát ven biển (C)
Nhóm đất cát ven biển phân bố ở tất cả các xã có ranh giới với biển như: Hòa Hiệp Bắc, Hòa Hiệp Trung, Hòa Hiệp Nam, Hòa Tâm, Hòa Xuân Nam... Đất có đặc điểm thành phần cơ giới nhẹ, thoát nước tốt, nghèo dinh dưỡng, mức độ phân giải hữu cơ mạnh, độ no bazơ thấp, đất có phản ứng chua nhẹ đến kiềm yếu. Các cây trồng thích hợp là rừng phòng hộ (chắn cát), cây rau, màu, cây công nghiệp ngắn ngày.2.2 Các nguồn tài nguyên khác.
2.2. Tài nguyên nước:
Nguồn nước mặt: Huyện Đông Hoà có hệ thống nguồn nước mặt chính từ hai con sông Bàn Thạch và Đà Rằng, với lượng nước tương đối dồi dào;
+ Sông Bàn Thạch: Là sông có diện tích lưu vực khá lớn 600 km2, dài 58 km, lưu lượng trung bình 12 - 15 m3/s, ở thượng nguồn có độ dốc 7,5%, chảy qua khu vực có độ dốc 0,2%.
+ Sông Đà Rằng: Là con sông dài nhất duyên hải miền Trung, bắt nguồn từ tỉnh KonTum trên độ cao 2000 m, chảy qua huyện theo hướng Tây Đông, lưu lượng trung bình 280 m3/s. Lưu lượng mùa kiệt 30 - 40 m3/s.
Ngoài ra còn có hồ Đồng Khôn, Biển Hồ, đập Tân Giang, đập Đồng Lau và hệ thống nước tưới của thuỷ nông Đồng Cam, trạm bơm Nam Bình.
b, Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm dễ khai thác, song có một số vùng đã bị nhiễm phèn, nhiễm dầu, nước cứng, hàm lượng sắt vượt quá mức cho phép. Chiều sâu mực nước ngầm từ -3,2 m đến -0,8 m.
2.3 Tài nguyên rừng 
Huyện Đông Hoà có tổng diện tích đất lâm nghiệp 12202.41 ha, trong đó đất rừng sản xuất 2738,89 ha; đất rừng phòng hộ 1698.67ha ;đất rừng đặc dụng 2102,20 ha ở khu vực Đèo Cả.
Hệ thực vật: rừng tự nhiên chủ yếu là rừng kín lá rộng, cấu trúc loài phong phú, đa dạng các loại cây, có khả năng phòng hộ cao. Rừng trồng chủ yếu các loại cây như Bạch đàn, Keo lá tràm, Keo tai tượng, Phi lao và một số loài khác.
Động vật rừng: Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của các dự án thì hệ động vật rừng của huyện Đông Hoà khá phong phú có đầy đủ các loài vật cùng sinh sống. Đến nay tài nguyên động vật rừng đã giảm đáng kể cả về số lượng lẫn chất lượng, nguyên nhân chủ yếu do rừng bị chặt phá nhiều. Khu bảo tồn thiên nhiên như rừng Đèo Cả là nơi có giá trị cả về khoa học bảo tồn đa dạng sinh học và ý nghĩa to lớn về phục vụ tham quan du lịch, phòng hộ.
Rừng của huyện ngoài ý nghĩa về bảo tồn đa dạng sinh học thì vấn đề quan trọng là góp phần tích cực vào việc điều hoà khí hậu, giữ gìn nguồn nước, chống xói mòn và tạo cảnh quan du lịch.
2.4. Tài nguyên khoáng sản
Tiềm năng lớn nhất của huyện Đông Hoà là đá Granít, cát phục vụ xây dựng. Ngoài ra còn có mỏ than bùn ở Hảo Sơn và một số khoáng sản khác.
2.5. Tài nguyên biển
Với vị trí nằm sát biển Đông, với chiều dài bờ biển 48 km, đây là nguồn tài nguyên vô cùng qúy giá, tạo ra thế mạnh trong phát triển kinh tế của huyện, với các tài nguyên biển (nhất là thuỷ hải sản)phong phú, cần tận dụng và khai thác tối đa thế mạnh về biển.